GiamDinhCoVat.comGiám Định Cổ Vật
Giám định cổ vật là gì

Nghề giám định cổ vật: người giám định cần biết gì, học ở đâu và làm việc ra sao

Người giám định cổ vật cần nền lịch sử, khảo cổ, mỹ thuật, Hán Nôm, vật liệu và con mắt luyện qua hàng nghìn hiện vật. Bài tả nghề từ bên trong, kèm chuẩn mực đạo đức.

Museum storage room in Vietnam with tall metal shelves of wrapped ceramic jars, a young researcher seen from behind measuring a jar with calipers, fluorescent light

Người giám định cổ vật là người kết hợp được hai thứ: nền kiến thức học thuật về lịch sử, khảo cổ, mỹ thuật, chữ Hán Nôm và vật liệu, với con mắt nghề được luyện qua việc cầm, xem, so sánh rất nhiều hiện vật đã biết rõ nguồn gốc. Phần lớn người làm nghề nghiêm túc đi lên từ các ngành khảo cổ học, bảo tàng học, lịch sử, lịch sử mỹ thuật, rồi chuyên sâu dần vào một vài loại hiện vật trong nhiều năm làm việc ở bảo tàng, viện nghiên cứu hay sưu tập lớn.

Hiểu nghề này vận hành thế nào giúp người mang đồ đi giám định biết nên tin ai, vì sao một chuyên gia gốm không nên kết luận về tượng gỗ, và vì sao những lời mời "học giám định cổ vật cấp tốc" đáng được hỏi lại kỹ. Bài cũng hữu ích cho sinh viên đang cân nhắc theo con đường này.

Người giám định cổ vật thật sự làm gì

Công việc hằng ngày ít kịch tính hơn hình dung. Phần lớn thời gian là quan sát, đo đạc, chụp ảnh, ghi chép và tra cứu. Một hiện vật được xem từ mọi phía, dưới nhiều loại ánh sáng; mỗi chi tiết đáng chú ý được ghi lại; rồi người giám định đặt nó cạnh những gì đã biết: hiện vật cùng loại trong kho, ảnh và mô tả trong báo cáo khai quật, sách khảo cứu.

Phần còn lại là viết. Một kết luận giám định cần được viết sao cho người khác đọc hiểu được căn cứ, phân biệt rõ điều chắc với điều chỉ là nhận định. Viết dè dặt mà vẫn có ích là một kỹ năng khó, và là thứ phân biệt người giám định có nghề với người chỉ có con mắt tốt.

Người giám định cũng thường làm việc nhóm. Với hiện vật khó, nhiều người cùng xem, tranh luận, đối chiếu ý kiến. Một người giỏi gốm, một người đọc được minh văn, một người hiểu về phân tích vật liệu ngồi chung một bàn thường cho kết luận chắc hơn bất kỳ ai làm một mình.

Nền kiến thức của nghề

Lịch sử và khảo cổ học. Biết các thời kỳ, các nền văn hoá, các di chỉ tiêu biểu và những gì đã được khai quật ở đó. Đây là khung để đặt một hiện vật vào đúng chỗ.

Lịch sử mỹ thuật. Hiểu sự thay đổi của kiểu dáng, hoa văn, phong cách tạo hình qua từng thời; biết chi tiết nào xuất hiện từ khi nào và kéo dài bao lâu.

Hán Nôm. Rất nhiều hiện vật Việt mang chữ: minh văn trên chuông, khánh, bia, đồ thờ, gốm. Đọc được chữ, hiểu được cách ghi niên hiệu, tên người cung tiến là lợi thế lớn, và cũng là cách phát hiện chữ khắc sai thời.

Kiến thức vật liệu. Đất, men, nhiệt độ nung với gốm; thành phần hợp kim, cách đúc với đồ đồng; loại gỗ, cách mộng ghép với đồ gỗ; giấy, mực, màu với thư tịch và tranh. Không cần là nhà hoá học, nhưng phải hiểu đủ để biết khi nào cần đến phòng phân tích và đọc được kết quả.

Kỹ thuật chế tác thủ công. Biết đồ được làm thế nào thì mới nhận ra dấu vết làm. Nhiều người giám định giỏi dành thời gian ở làng gốm, xưởng đúc, xưởng mộc để xem người thợ làm việc.

Hiểu biết về đồ giả. Biết các làng nghề phỏng cổ làm gì, kỹ thuật làm cũ phổ biến ra sao. Người không biết đồ giả được làm thế nào thì khó nhận ra nó.

Con mắt nghề được luyện thế nào

Không có sách nào thay được việc cầm trên tay hàng nghìn hiện vật. Con mắt nghề hình thành khi người giám định đã xem đủ nhiều đồ biết chắc nguồn gốc, đặc biệt là đồ từ các cuộc khai quật có ghi chép, đến mức một chi tiết lệch đi lập tức gây cảm giác "có gì không ổn" trước cả khi lý giải được.

Vì vậy nơi làm việc rất quan trọng. Kho bảo tàng, phòng tư liệu của viện nghiên cứu, công trường khai quật là những nơi người trẻ được tiếp xúc với hiện vật có nguồn rõ ràng. Học con mắt ở chợ đồ cũ cũng có ích, nhưng nếu chỉ học ở đó thì dễ "quen mắt" với chính những món giả đang trôi nổi.

Một phần ít được nói tới là luyện mắt với đồ giả. Người giám định cần xem đồ phỏng cổ của các làng nghề hiện nay, đồ giả đã bị phát hiện trong các vụ việc, để biết người làm giả đang đi tới đâu. Nhiều bảo tàng và cơ sở nghiên cứu trên thế giới giữ riêng bộ sưu tập đồ giả để phục vụ việc học này.

Con mắt nghề cũng cần được kiểm. Người giám định nghiêm túc đối chiếu cảm giác ban đầu của mình với căn cứ cụ thể, với ý kiến đồng nghiệp, với kết quả phân tích khi có. Cảm giác đúng nhiều lần không bảo đảm lần sau cũng đúng, nhất là khi đồ giả ngày càng tinh vi.

Chuyên sâu theo loại hiện vật

Không ai giỏi đều mọi loại cổ vật. Mỗi nhóm đòi hỏi một kho hiểu biết riêng:

Nhóm hiện vậtKiến thức đặc thùCâu hỏi hay gặp
Gốm sứĐất, men, lò nung, kiểu dáng theo thời, dòng gốm trong và ngoài nướcThời nào, lò nào, có sửa men không
Đồ đồng, kim loạiHợp kim, kỹ thuật đúc, gỉ tự nhiên và gỉ tạoĐúc thời nào, gỉ thật hay tạo, có hàn ghép không
Đồ gỗ, sơn màiLoại gỗ, mộng ghép, kỹ thuật sơn, dấu công cụGỗ cũ chạm mới hay chạm cùng thời
Giấy, tranh, sáchGiấy, mực, màu, con dấu, chữ viếtBản gốc hay bản chép, thời điểm viết
Tiền xưa, ấn triệnKỹ thuật đúc, chữ, hệ thống tiền tệ, quy chế ấnĐúc chính thức hay đúc lậu, làm lại đời sau

Đó là lý do một hội đồng giám định thường gồm người thuộc nhiều chuyên môn, và là lý do bạn nên hỏi người giám định của mình chuyên sâu về loại hiện vật nào. Một chuyên gia gốm nói rằng mình không đủ chuyên môn để kết luận về một tượng gỗ là đang làm đúng nghề.

Một ca giám định nhìn từ phía người làm nghề

Từ góc người giám định, một ca làm việc nghiêm túc thường diễn ra theo nhịp sau, dù mỗi nơi có cách tổ chức riêng:

  1. Nghe người đưa đồ kể, ghi lại nguyên văn những gì họ tin về món đồ, nhưng tạm gác lời kể sang một bên khi quan sát.
  2. Xem tổng thể trước, chi tiết sau: dáng, tỷ lệ, trọng lượng cầm trên tay, rồi mới đến men, gỉ, dấu công cụ, minh văn.
  3. Chụp ảnh theo một bộ góc cố định để sau này đối chiếu được, kể cả với chính hiện vật nếu nó quay lại.
  4. Lập danh sách điểm phù hợp và điểm không phù hợp với giả thuyết ban đầu; cố ý tìm điểm phản bác thay vì chỉ tìm điểm xác nhận.
  5. Tra tư liệu và mẫu đối chiếu; khi cần, đề xuất phép phân tích và giải thích cho chủ đồ trước khi lấy mẫu.
  6. Đưa ca khó ra trao đổi với đồng nghiệp hoặc hội đồng.
  7. Viết kết luận, đọc lại với câu hỏi: người khác đọc có thấy được căn cứ không, có chữ nào khẳng định quá mức không.

Bước thứ tư là chỗ phân biệt rõ nhất người có nghề với người chỉ có kinh nghiệm. Thói quen chủ động tìm bằng chứng ngược lại với cảm giác đầu tiên của mình là lớp bảo vệ chính trước đồ giả tinh vi và trước chính thiên kiến của người giám định.

Chuẩn mực đạo đức của người giám định

Giới bảo tàng quốc tế, qua bộ quy tắc đạo đức của Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM), và giới nghiên cứu trong nước đều nhấn mạnh một số chuẩn mực mà người làm giám định cổ vật nên giữ:

  • Độc lập: không giám định món đồ mà mình có lợi ích trong việc mua bán; nếu có quan hệ với một bên, phải nói rõ.
  • Dám nói "chưa biết": không đưa ra kết luận vượt quá căn cứ chỉ để làm vừa lòng người đưa đồ.
  • Ở trong chuyên môn của mình: từ chối hoặc mời thêm người khi hiện vật thuộc loại mình không chuyên sâu.
  • Không định giá thay nghề khác: tách kết luận về bản chất hiện vật khỏi chuyện giá cả.
  • Bảo mật: không tiết lộ thông tin về hiện vật, chủ sở hữu, nơi cất giữ khi chưa được phép.
  • Tôn trọng pháp luật về di sản: khi gặp hiện vật có dấu hiệu khai quật trái phép hay bị đánh cắp, không tiếp tay hợp thức hoá nó.

Người mang đồ đi giám định có thể dùng chính danh sách này làm câu hỏi: người giám định có quan hệ gì với món đồ không, chuyên sâu về loại nào, có định giá không.

Con đường vào nghề

Ở Việt Nam, những người làm giám định cổ vật nghiêm túc thường bắt đầu từ các ngành học đại học như lịch sử, khảo cổ học, bảo tàng học, Hán Nôm, mỹ thuật học, rồi làm việc nhiều năm ở bảo tàng, viện nghiên cứu, trung tâm bảo tồn di tích. Một số người khác đi lên từ thú sưu tầm lâu năm, tự học và làm việc cùng giới nghiên cứu. Không có lối tắt nào thay được thời gian tiếp xúc với hiện vật.

Theo nguyên lý của Luật Di sản văn hoá 2024, người làm việc tại cơ sở giám định cổ vật phải đáp ứng những điều kiện về chuyên môn do văn bản hướng dẫn quy định. Ai muốn theo nghề nên tìm hiểu các điều kiện này qua cơ quan quản lý văn hoá, không nên dựa vào lời quảng cáo.

Thỉnh thoảng có những khoá học ngắn hứa "cấp chứng chỉ giám định cổ vật" sau vài buổi. Học thêm kiến thức luôn có ích, nhưng hãy hỏi rõ chứng chỉ đó do ai cấp, có giá trị gì trong khung pháp lý. Một tờ chứng chỉ sau vài tuần không thể thay thế nhiều năm cầm hiện vật trong kho bảo tàng.

Câu hỏi thường gặp

Muốn làm giám định cổ vật nên học ngành gì?

Các ngành gần nhất là khảo cổ học, lịch sử, bảo tàng học, Hán Nôm, mỹ thuật học. Kiến thức hoá học vật liệu là lợi thế. Sau khi học, thời gian làm việc ở bảo tàng, viện nghiên cứu hay công trường khai quật mới là phần hình thành con mắt nghề.

Người sưu tầm lâu năm có giám định giỏi hơn nhà nghiên cứu không?

Mỗi bên có thế mạnh. Người sưu tầm thường quen tay với thị trường và đồ giả, nhà nghiên cứu mạnh về tư liệu và hiện vật có nguồn gốc rõ. Kết luận tốt nhất thường đến khi hai loại hiểu biết được đặt cạnh nhau một cách minh bạch.

Người giám định có được mua bán cổ vật không?

Việc sưu tầm cá nhân không bị cấm chung, nhưng chuẩn mực nghề đòi hỏi tránh xung đột lợi ích: không giám định món mình muốn mua hay đang bán, và nói rõ mọi quan hệ với các bên. Nên hỏi thẳng người giám định về điều này.

Vì sao chuyên gia lại từ chối giám định món đồ mang đến?

Thường vì món đồ nằm ngoài chuyên môn của họ, vì có dấu hiệu nguồn gốc không rõ ràng, hoặc vì họ có quan hệ với một bên trong giao dịch. Từ chối là dấu hiệu của sự cẩn trọng; hãy hỏi họ gợi ý nơi phù hợp hơn.

Khoá học giám định cổ vật ngắn hạn có giá trị không?

Có ích để mở mang hiểu biết, nhưng không biến người học thành người giám định. Hãy hỏi rõ đơn vị tổ chức, nội dung, và chứng chỉ có ý nghĩa gì về pháp lý. Cảnh giác với lời hứa hành nghề ngay sau khoá học.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183